Tìm kiếm

dfdfdsfdsfd

Mục tiêu chung  

 

Đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xây dựng Học viện ANND trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế, được xếp hạng 100 trường đại học tốt nhất của khu vực ASEAN; cơ sở đào tạo tiên tiến, chuyên sâu của cả nước về an ninh, an toàn thông tin, trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, đào tạo chuyên gia về an ninh mạng, phòng, chống tội phạm sử dụng công cao được xếp hạng trong khu vực; cơ sở công nghiệp quốc phòng, an ninh nòng cốt của Bộ Công an; tổ chức đào tạo đa ngành các trình độ của giáo dục đại học theo định hướng ứng dụn

image-16

g đáp ứng nhu cầu nhân lực của lực lượng CAND, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đối với các ngành, nghề Học viện có thế mạnh; tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an.   

Mục tiêu cụ thể    
Về quy mô đào tạo, bồi dưỡng    
Đến năm 2030: Quy mô đào tạo của Học viện An ninh nhân dân là 15.000 học viên. Sau năm 2030, mỗi năm tăng 10% đến năm 2045.    
Về ngành, lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng    
 

  • Đến năm 2030: Đào tạo cho CAND các ngành Trinh sát an ninh, Điều tra hình sự, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, An toàn thông tin, Công nghệ thông tin, Ngôn ngữ Anh ở trình độ đại học; đào tạo các ngành Trinh sát an ninh, Điều tra hình sự, Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, An ninh phi truyền thống, Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm ở trình độ thạc sĩ; đào tạo các ngành Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, Trinh sát an ninh, Điều tra hình sự ở trình độ tiến sĩ; Đào tạo lưỡng dụng đáp ứng nhu cầu xã hội đối với các ngành đào tạo Học viện có thế mạnh gồm: Công nghệ thông tin, an toàn thông tin, an ninh phi truyền thống; Đào tạo các trình độ trung cấp, cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ Công an các đơn vị, địa phương. Tổ chức các loại hình bồi dưỡng như: Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, kiến thức nâng cao cho lãnh đạo chỉ huy các cấp trong CAND; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng 2,3,4; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng giáo viên các trường CAND và các loại hình bồi dưỡng khác theo quy định của Bộ Công an; bồi dưỡng kiến thức cho đối tượng là cán bộ, lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương liên quan đến an ninh kinh tế, an ninh mạng, phòng ngừa xử lý xung đột xã hội, phòng, chống diễn biến hòa bình, ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống.  


 

  • Đến năm 2045: Tổ chức đào tạo đủ các trình độ của giáo dục đại học (gồm trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ) ở tất cả các ngành đào tạo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao Học viện đào tạo cho lực lượng CAND; mở thêm các ngành, nghề, lĩnh vực đào tạo mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng CAND và các ngành, nghề, hình thức, trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đối với các lĩnh vực Học viện có thế mạnh. Tổ chức đào tạo các trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ CAND. Tổ chức các loại hình bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ CAND theo quy định của Bộ Công an; thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về an ninh (an ninh quốc gia nói chung, lĩnh vực an ninh phi truyền thống, an ninh mạng nói riêng) cho cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang theo quy định của Nhà nước.  


Về đội ngũ cán bộ, giảng viên    
 

  • Đến năm 2030: Tăng cường tuyển chọn bổ sung cán bộ, giảng viên Học viện theo ấn định biên chế của Bộ Công an đối với Học viện, kết hợp điều chỉnh, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giảng viên Học viện bảo đảm tỷ lệ biên chế giảng viên từ 52% trở lên trong tổng biên chế của Học viện được Bộ ấn định. Quy hoạch, cử cán bộ, giảng viên Học viện đi đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước, trong và ngoài ngành để đến năm 2030 đạt trên 95% cán bộ, giảng viên Học viện có trình độ đại học Công an và trình độ trung cấp chính trị trở lên, trong đó trên 50% có năng lực, trình độ làm việc trong môi trường quốc tế; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 50%; 100% cán bộ quản lý và giảng viên được bồi dưỡng nâng cao năng lực về phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, nghiên cứu khoa học, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, năng lực, kinh nghiệm thực tiễn công tác.  


 

  • Đến năm 2045: Tổ chức đào tạo đủ các trình độ của giáo dục đại học (gồm trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ) ở tất cả các ngành đào tạo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao Học viện đào tạo cho lực lượng CAND; mở thêm các ngành, nghề, lĩnh vực đào tạo mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác, chiến đấu của lực lượng CAND và các ngành, nghề, hình thức, trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đối với các lĩnh vực Học viện có thế mạnh. Tổ chức đào tạo các trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ CAND. Tổ chức các loại hình bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ CAND theo quy định của Bộ Công an; thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về an ninh (an ninh quốc gia nói chung, lĩnh vực an ninh phi truyền thống, an ninh mạng nói riêng) cho cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang theo quy định của Nhà nước.  


 

  • Đến năm 2045: Tổ chức tuyển chọn bổ sung, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giảng viên theo biên chế ấn định và cơ cấu theo quy định của Bộ Công an. Phấn đấu tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 70%; 80% giảng viên, cán bộ quản lý đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, có năng lực phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, nghiên cứu khoa học, sử dụng thành thạo ít nhất 01 ngoại ngữ và có trình độ công nghệ thông tin nâng cao.   


Về hoạt động khoa học công nghệ    
 

  • Đến năm 2030: Hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh trên các lĩnh vực: khoa học an ninh, công nghệ thông tin và an ninh mạng, khoa học pháp lý, khoa học chính trị, khoa học giáo dục… gắn với các lĩnh vực chuyên môn sâu phục vụ công tác đào tạo của Học viện. Hàng năm, chủ trì nghiên cứu ít nhất 02 đề tài cấp quốc gia, 15 đề tài cấp bộ, 15 đề tài cơ sở, 13 đề tài lý luận các cấp; có ít nhất 100 đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học. Mỗi năm, thường trực tổ chức 01 hội thảo quốc tế, 01 hội thảo cấp quốc gia, 03 hội thảo cấp bộ, tối thiểu 05 hội thảo cấp Học viện. Bảo đảm mỗi môn học, học phần có ít nhất 01 giáo trình và 02 tài liệu dạy học, đáp ứng đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an. Tạp chí Khoa học và Giáo dục an ninh đạt chuẩn tạp chí trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước công nhận. Số lượng công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên một giảng viên toàn thời gian không thấp hơn 01 bài/năm, trong đó số bài có trong danh mục Web of Science hoặc Scopus được công bố tăng qua từng năm. Phấn đấu 100% kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của Học viện phục vụ trực tiếp nhiệm vụ biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học, các mặt công tác của Học viện; ít nhất 02 đề tài khoa học phối hợp nghiên cứu hoặc chuyển giao cho Công an các đơn vị, địa phương.  


 

  • Đến năm 2045: Cùng với việc duy trì, gia tăng số lượng đề tài các cấp theo tỉ lệ trên, Học viện đảm nhiệm ít nhất 01 Chương trình nghiên cứu cấp Bộ Công an, phấn đấu có ít nhất 01 đề tài hoặc dự án hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ phục vụ công tác đào tạo của Học viện và ngành Công an. Hằng năm, có ít nhất 150 đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học. Mỗi năm, thường trực tổ chức ít nhất 02 hội thảo quốc tế, 04 hội thảo cấp quốc gia, 08 hội thảo cấp bộ, 08 hội thảo cấp Học viện. Công tác biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học đáp ứng đúng theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an, bảo đảm mỗi môn học, học phần có ít nhất 01 giáo trình và 04 tài liệu dạy học. Ngoài duy trì Tạp chí Khoa học và Giáo dục an ninh đạt chuẩn tạp chí trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước công nhận, có thêm tạp chí khoa học đạt chuẩn của các tạp chí quốc tế trong khu vực ASEAN và thế giới.  Số lượng công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên một giảng viên toàn thời gian không thấp hơn 02 bài/năm, trong đó số bài có trong danh mục Web of Science hoặc Scopus không thấp hơn 0,5 bài/năm. Phấn đấu 100% kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của Học viện phục vụ trực tiếp nhiệm vụ biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học, các mặt công tác của Học viện, được ứng dụng trong thực tiễn công tác ở Công an các đơn vị, địa phương.  


Về hoạt động hợp tác trong nước, quốc tế    
 

  • Đến năm 2030: Mở rộng hoạt động hợp tác của Học viện với các cơ sở giáo dục đại học, các viện nghiên cứu, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành ở trong nước nhằm hợp tác, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên, học viên, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, trao đổi học thuật, tiếp nhận tài trợ...; duy trì, khai thác hiệu quả hoạt động hợp tác với các đơn vị đã ký kết quy chế phối hợp, bản ghi nhớ hợp tác. Cán bộ khoa học, chuyên gia nước ngoài đến hợp tác giảng dạy, nghiên cứu mỗi năm chiếm ít nhất 5% số giảng viên, cán bộ nghiên cứu của Học viện (từ 20 - 30 người); tăng số lượng lưu học sinh nước ngoài học tại Học viện tương xứng với sự phát triển của Học viện (2%-3% tổng số học viên của Học viện); có hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới; khai thác và sử dụng các chương trình đào tạo, học liệu mở được chia sẻ trực tuyến với các trường đại học có uy tín trên thế giới; có hoạt động hợp tác nghiên cứu quốc tế có công bố chung; từ 03-05 sản phẩm hoặc công nghệ được thực hiện từ các hoạt động hợp tác quốc tế hoặc được nước ngoài chuyển giao.  


 

  • Đến năm 2045: Mở rộng và duy trì hiệu quả hoạt động hợp tác với các đơn vị trực thuộc Bộ Công an, Công an các địa phương có quan hệ thường xuyên với Học viện; khai thác hiệu quả hoạt động hợp tác với các cơ quan, đơn vị đã ký kết quy chế phối hợp, bản ghi nhớ hợp tác; tập trung mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cơ quan, đơn vị có liên quan đến các ngành, nghề, lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu của Học viện. Tăng số lượng hợp tác nghiên cứu quốc tế có công bố chung trong toàn Học viện; số lượng học viên và giảng viên tham gia các chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của nước ngoài thuộc tốp đầu các trường ở Việt Nam được xếp hạng; thường xuyên có sản phẩm hoặc công nghệ được thực hiện từ các hoạt động hợp tác quốc tế hoặc được nước ngoài chuyển giao; khai thác và sử dụng tối đa các chương trình đào tạo, học liệu mở được chia sẻ trực tuyến với các trường đại học có uy tín trên thế giới phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu của Học viện; phấn đấu có 01 chuyên san (tạp chí) của Học viện lọt vào danh mục các tạp chí uy tín trong khu vực.  


Về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong đào tạo    
 

  • Đến năm 2030: Hoàn thành cổng thông tin điện tử liên thông, chia sẻ dữ liệu với các trường CAND; áp dụng phương thức học tập kết hợp, phát triển phương thức đào tạo trực tuyến, trong đó số học phần sẵn sàng giảng dạy trực tuyến chiếm ít nhất 10% tổng số học phần giảng dạy trong năm; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN. Công nghệ thông tin trở thành động lực đổi mới quản lý, nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá trong hoạt động đào tạo của Học viện.  


 

  • Đến năm 2045: Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học, kiểm tra, đánh giá người học, quản lý đào tạo đạt ngang bằng với các cơ sở giáo dục đại học tốp đầu trong nước và ở các nước phát triển; 100% các học phần sẵn sàng giảng dạy trực tuyến.  


Về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo    
 

  • Đến năm 2030: Tổng diện tích đất, diện tích sàn xây dựng phục vụ hoạt động đào tạo tại Học viện đạt và vượt tiêu chuẩn diện tích đất đai theo chuẩn cơ sở giáo dục đại học; hoàn thành xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện tại Cơ sở 1 của Học viện theo quy hoạch đã được điều chỉnh; đầu tư trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện bảo đảm đồng bộ, hiện đại đáp ứng quy mô, quy hoạch đào tạo tại Cơ sở 1; triển khai đầu tư xây dựng Cơ sở 2 của Học viện theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thư viện, trung tâm học liệu có đủ giáo trình, sách chuyên khảo và học liệu khác theo yêu cầu của chương trình đào tạo, trong đó: Số đầu sách giáo trình, sách chuyên khảo tính bình quân trên một ngành đào tạo ở mỗi trình độ đào tạo không nhỏ hơn 50. Số bản sách giáo trình, sách chuyên khảo tính bình quân trên một người học quy đổi theo trình độ đào tạo không nhỏ hơn 10.   


 

  • Đến năm 2045: Diện tích đất, diện tích sàn xây dựng phục vụ hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện tại Học viện được đầu tư đồng bộ, hiện đại ngang tầm các cơ sở đào tạo an ninh, cảnh sát của các nước phát triển trên thế giới.  


 

Tin tức liên quan

Xem thêm
Fdfsdfsdfd

Fdfsdfsdfd

Họp Ban Chỉ đạo về xây dựng phim 80 năm truyền thống Học viện

Họp Ban Chỉ đạo về xây dựng phim 80 năm truyền thống Học viện

Học viện An ninh nhân dân tổ chức buổi gặp mặt, chúc Tết lưu học viên Lào nhân dịp Tết cổ truyền Bunpimay năm 2026

Học viện An ninh nhân dân tổ chức buổi gặp mặt, chúc Tết lưu học viên Lào nhân dịp Tết cổ truyền Bunpimay năm 2026

Tập trung trí tuệ hoàn thiện báo cáo tổng kết 80 năm

Tập trung trí tuệ hoàn thiện báo cáo tổng kết 80 năm